I. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2010
1. Tổng số đầu lợn
- Theo số liệu thống kê tại thời điểm 01/4/2010, cả nước có 27,3 triệu con, tăng 3,06% so với cùng kỳ năm 2009. Các vùng có số đầu lợn nhiều là vùng ĐBSH có 7,2 triệu con, chiếm 27,1% tổng đàn lợn trong cả nước; Đông Bắc 4,6 triệu con, chiếm 17,3%; ĐBSCL 3,6 triệu con, chiếm 13,6%; Bắc Trung Bộ 3,4 triệu con, chiếm 12,9%; ĐNB 2,5 triệu con, chiếm 9,3%; DHNTB 2,4 triệu con, chiếm 9,0%.
- Các tỉnh có số đầu lợn lớn trên 1 triệu con tại thời điểm 01/4/2010 là Hà Nội, Đồng Nai, Nghệ An, Thái Bình, Bắc Giang.
2. Số đầu lợn nái
- Tổng đàn lợn nái thời điểm 01/4/2010 là 4,18 triệu con (chiếm 15,3% tổng đàn), tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2009.
- Các vùng có số lượng lợn nái nhiều là ĐBSH có khoảng 1,18 triệu con, chiếm 28,4% tổng số lợn nái trong cả nước; Đông Bắc khoảng 643 ngàn con, chiếm 15,4%; Bắc trung Bộ khoảng 590 ngàn con, chiếm 14,1%; ĐB sông Cửu Long khoảng 513 ngàn con, chiếm khoảng 12,3%.
3. Sản lượng thịt lợn hơi
Theo ước tính của Cục Chăn nuôi, mỗi tháng cả nước sản xuất và tiêu thụ khoảng 290-300 ngàn tấn thịt lợn hơi. Dự báo, tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng sản xuất trong 06 tháng đầu năm 2010 khoảng 1,77 triệu tấn, tăng khoảng 3,5% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, các vùng sản xuất thịt lợn có tỷ trọng lớn nhất lần lượt là: ĐB Sông Hồng khoảng 29%; ĐB sông Cửu Long khoảng 18%; Đông Nam Bộ khoảng 12%.
II. TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG VỀ LỢN THỊT VÀ LỢN GIỐNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2010
1. Thị trường và biến động giá một số sản phẩm lợn thịt, lợn giống
Nhìn chung, lợn thịt và lợn giống chủ yếu tiêu thụ trong nước. Giá các loại sản phẩm lợn thịt và lợn giống như sau:
a) Giá thịt lợn hơi xuất chuồng:
Giá thịt lợn hơi xuất chuồng thời gian qua có biến động nhiều. Các tháng đầu năm giá liên tục tăng cao và có sự chênh lệch khá lớn giữa miền Bắc và miền Nam (giá lợn thịt xuất chuồng ở miền Nam thường cao hơn miền Bắc từ 12-14%). Từ tháng 4 năm 2010 do dịch bệnh lợn tai xanh trên diện rộng tại các tỉnh phía Bắc, mức tiêu thụ giảm và giá bán các sản phẩm lợn thịt cũng giảm đáng kể, đặc biệt là các tỉnh phía Bắc. Cụ thể:
- Tại miền Bắc:
+ Đối với lợn 100% máu ngoại nuôi tại trang trại, giá từ bình quân 29,0 ngàn đồng/kg tháng 12/2009 tăng lên 30,0 ngàn đồng vào tháng 01/2010 và 30,7 ngàn đồng vào tháng 3/2010 (giá tháng 01 và tháng 03/2010 tăng tương ứng so với tháng 12/2009 là 3,4% và 5,9%). Từ đầu tháng 4/2010 đến nay, do dịch tai xanh, giá lợn thịt giảm còn 25,0-26,0 ngàn đồng/kg (giảm khoảng 15%).
+ Đối với lợn lai nuôi trong hộ gia đình, giá thấp hơn lợn ngoại từ 6,0 - 8,0 ngàn đồng/kg. Bình quân trước khi dịch là 24-25 ngàn đồng/kg, nay chỉ còn 17-18 ngàn đồng/kg (giảm khoảng 22-24%).
Điều đặc biệt quan ngại là do ảnh hưởng của dịch lợn tai xanh, tình hình tiêu thụ và vận chuyển lưu thông gặp khó khăn. Ước tính, sản lượng thịt tiêu thụ tại các chợ ở các thành phố lớn trong thời gian có dịch giảm từ 30-40% so với trước khi xảy ra dịch bệnh tai xanh.
- Tại miền Nam:
Lợn thịt xuất chuồng tại các trang trại từ 34,0 ngàn đồng/kg tháng 12/2009 tăng lên 36,0 ngàn đồng vào tháng 01/2010 và 36,7 ngàn đồng vào tháng 04/2010 (giá tháng 01 và tháng 04/2010 tăng tương ứng so với tháng 12/2009 là 6,0% và 8,5%). Do ảnh hưởng của dịch lợn tai xanh ở miền Bắc, giá thịt lợn hơi tại các tỉnh phía Nam cũng bắt đầu giảm nhẹ từ đầu tháng 5/2010 (giảm 7% so với tháng 01/2010). Hiện nay giá thịt lợn hơi tại các trại chỉ còn khoảng 33,0 ngàn đồng/kg.
b) Giá lợn giống:
Do giá lợn thịt xuất chuồng giảm, nên giá lợn giống cũng giảm theo. Cụ thể như sau:
- Tại các cơ sở giống lợn ở miền Bắc: lợn choai để nuôi thương phẩm loại 40kg/con giá bình quân trong tháng 1 đến tháng 3/2010 là 46,0 ngàn đồng/kg giảm xuống 42,5 ngàn đồng/kg trong tháng 4 và tiếp tục giảm xuống 35,7 ngàn đồng/kg trong tháng 5/2010 (giá bình quân tháng 4 và tháng 5 giảm so với bình quân tháng 1 đến tháng 3/2010 tương ứng là 7,6% và 23,2%); lợn cái giống ông bà và giống bố mẹ khối lượng từ 80-90kg/con, giá ổn định tương ứng ở mức giá 45,6 và 55,6 ngàn đồng/kg; lợn đực thụ tinh nhân tạo sau khi kiểm tra năng suất là 59,5 ngàn đồng/kg. Đặc biệt hiện nay việc tiêu thụ lợn giống đang gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều hộ gia đình và cơ sở chăn nuôi ngừng tái đàn; nhiều trang trại đã phải chuyển lợn giống bán thành lợn thịt. Mặc dù Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có Công văn số 1429/BNN-TY ngày 17/5/2010 về kiểm dịch, kiểm soát vận chuyển lợn, sản phẩm từ lợn, song trên thực tế các trại giống vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ.
- Tại các cơ sở giống lợn ở miền Nam: lợn choai để nuôi thương phẩm loại 40kg/con giá bình quân tháng 1 đến tháng 4 từ 53,6 ngàn đồng/kg giảm xuống 51,4 ngàn đồng/kg trong tháng 5/2010 (giá tháng 5 giảm so với bình quân trong tháng 1 đến tháng 4/2010 là 4,1%); lợn cái giống ông bà khối lượng từ 80-90kg/con, giá bình quân từ tháng 1 đến tháng 4/2010 là 60,2 ngàn đồng/kg giảm xuống 57,6 ngàn đồng/kg trong tháng 5/2010, giảm khoảng 4,3%; lợn cái hậu bị giống bố mẹ giá bình quân từ tháng 1 đến tháng 4/2010 là 55,2 ngàn đồng/kg giảm xuống 52,6 ngàn đồng/kg trong tháng 5/2010, giảm khoảng 4,7%; lợn đực thụ tinh nhân tạo sau khi kiểm tra năng suất là 80,0 ngàn đồng/kg.
c) Giá thịt lợn tiêu dùng trên thị trường:
Mặc dù giá lợn thịt xuất chuồng giảm mạnh, song giá lợn thịt bán lẻ tại các chợ vẫn giảm không đáng kể. Tuy nhiên, lượng thịt tiêu thụ tại các chợ, nhất là tại các thành phố lớn ở miền Bắc đã giảm nhiều. Cụ thể:
- Tại các chợ trong nội thành Hà Nội, giá thịt mông sấn từ 59.500 - 60.000 đồng/kg; do ảnh hưởng dịch lợn tai xanh, mức tiêu thụ trong tháng 4 và tháng 5/2010 giảm từ 35-40% so với các tháng trước đó.
- Tại các chợ tại thành phố Hồ Chí Minh, giá thịt mông sấn từ 67.000 - 67.900 đồng/kg; mức tiêu thụ trong tháng 5/2010 giảm từ 10-15% so với các tháng trước đó.
2. Nguyên nhân giảm tiêu thụ thịt lợn
- Do thông tin thiếu chính xác, một bộ phận người tiêu dùng đã quay lưng lại với thịt lợn, khiến nhu cầu tiêu thụ giảm.
- Cùng với nhu cầu tiêu thụ giảm, một bộ phận thương lái lợi dụng tình hình dịch bệnh tai xanh đã ghìm giá mua lợn hơi để kiếm lời.
- Ngoài ra còn nguyên nhân quan trọng là việc vận chuyển lưu thông lợn thịt từ các trang trại không nhiễm bệnh cũng gặp nhiều khó khăn.
3. Tình hình nhập khẩu thịt lợn
Ước tính tổng sản lượng thịt lợn nhập khẩu vào Việt nam trong 05 tháng đầu năm 2010 khoảng trên 50 ngàn tấn, trong đó chủ yếu là các sản phẩm và phụ phẩm lợn đông lạnh (chiếm khoảng 95%). Đặc biệt sau khi xảy ra dịch lợn tai xanh, sản lượng thịt lợn nhập khẩu có xu hướng tăng.
Các địa chỉ nhập khẩu thịt lợn chủ yếu là Châu Âu (EU) khoảng 85,9%; tiếp theo là Hồng Kông 12,7%. Mỹ 1,0%, còn lại là các nước Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản.
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH TIÊU THỤ LỢN GIỐNG VÀ LỢN THỊT TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền lập lại lòng tin cho người tiêu dùng
- Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để người chăn nuôi và người tiêu dùng hiểu đúng hơn bệnh tai xanh, không quá hoang mang và vẫn có thể tiêu dùng thịt lợn không nhiễm bệnh kể cả trong thời điểm đang có dịch bệnh như hiện nay.
- Các cơ quan chuyên môn về y tế và thú y tại các địa phương tăng cường tuyên truyền hướng dẫn các biện pháp để người dân có thể tự nhận biết và phòng tránh sự lây nhiễm vi khuẩn liên cầu khuẩn do dùng các sản phẩm như tiết canh, thịt lợn chưa nấu chín.
2. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, lưu thông tiêu thụ lợn giống, lợn thịt không bị bệnh
- Đề nghị các cấp chính quyền và cơ quan thú y tại các địa phương tổ chức chỉ đạo hướng dẫn thực hiện đúng tinh thần Công văn số 1429/BNN-TY ngày 17/5/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về kiểm dịch, kiểm soát vận chuyển lợn, sản phẩm từ lợn. Theo đó vừa tăng cường công tác phòng chống dịch, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở chăn nuôi không nhiễm bệnh được vận chuyển lưu thông lợn giống và lợn thịt để tiêu thụ.
- Để người tiêu dùng yên tâm, các cơ quan thú y cần tăng cường kiểm dịch, kiểm soát giết mổ để ngăn chặn các sản phẩm thịt lợn không bảo đảm chất lượng và nhiễm bệnh len lỏi vào các chợ.
IV. KHUYẾN CÁO KHÔI PHỤC CHĂN NUÔI LỢN SAU DỊCH TAI XANH
1. Các địa phương tổ chức khôi phục chăn nuôi lợn sau dịch cần thận trọng, tránh tư tưởng nóng vội, không tái đàn ồ ạt.
2. Khi khôi phục chăn nuôi lợn sau dịch cần bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Chỉ tái đàn khi địa phương đã công bố hết dịch theo quy định tại Điều 21 của Pháp lệnh Thú y;
b) Khuyến khích giết mổ có kiểm soát đàn lợn còn sống sót trong chuồng, trại đã bị nhiễm bệnh tai xanh;
c) Thu gom chất thải và xử lý theo quy định; vệ sinh sạch sẽ, phun thuốc tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi và xung quanh khu vực chăn nuôi;
d) Để trống chuồng trong thời gian tối thiểu là 21 ngày kể từ ngày vệ sinh, tiêu độc, khử trùng. Trước khi nuôi lợn trở lại, hàng ngày cở sở chăn nuôi phải được vệ sinh, phun thuốc tiêu độc khử trùng liên tục trong 1 tuần;
e) Lợn đưa vào nuôi phải có nguồn gốc rõ ràng, được sản xuất tại các cơ sở không bị dịch bệnh, có giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, đồng thời được tiêm vắc xin phòng các bệnh truyền nhiễm theo quy định./.